Tuesday, October 14, 2008

Tính thời đại trong sự phân tích của V.I.Lênin về ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của Cách mạng tháng Mười

http://fpe.hnue.edu.vn/: Nhân dịp Kỷ niệm 91 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (1917 - 2008), chúng tôi xin đăng Báo cáo khoa học của ThS Nguyễn Bá Cường tại Hội thảo cách đây 5 năm. Hơn 90 năm trước, "một thời đại mới trong lịch sử thế giới" đã được mở ra. "Cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta, thì ý nghĩa cuộc cách mạng vô sản ở Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta"


Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử loài người, tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến tiến bộ xã hội hơn bất kỳ một sự kiện lịch sử nào. Cách đây 85 năm, "một thời đại mới trong lịch sử thế giới" đã được mở ra. "Cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta, thì ý nghĩa cuộc cách mạng vô sản ở Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta"(1). Sự khẳng định trên đây của Lênin đã được chứng minh bởi sự nhận thức ngày càng sâu sắc về ý nghĩa quốc tế, ý nghĩa vạch thời đại của cuộc Cách mạng tháng Mười. Hàng năm, nhân loại tiến bộ trên phạm vi toàn thế giới tưng bừng tổ chức kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng "cách tốt nhất để kỷ niệm cuộc cách mạng vĩ đại này là tập trung sự chú ý vào những nhiệm vụ chưa hoàn thành của cách mạng. Cách kỷ niệm này là thoả đáng và cần thiết, nhất là khi còn có những vấn đề cơ bản mà cách mạng chưa giải quyết xong, và để giải quyết những vấn đề đó, thì phải thấm nhuần được một cái gì mới (nhìn theo quan điểm những cái mà cho tới nay cách mạng đã thực hiện được)"(2).
Với những chỉ dẫn hết sức sắc bén khoa học như vậy, ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của Cách mạng tháng Mười dưới sự phân tích của Lênin đến nay vẫn còn mang tính thời đại to lớn. Điều hiển nhiên là sự phân tích dù có sâu sắc đến mấy rốt cuộc cũng chỉ phản ánh được tương đối về cái hiện thực sinh động mà Cách mạng tháng Mười đã vạch ra, về tính thời đại và ý nghĩa quốc tế của nó. Thế nhưng ở Lênin, hơn 80 năm sau Cách mạng tháng Mười, chúng ta vẫn thấy được sự sinh động sôi sục của những ngày tháng sau cách mạng trong từng câu chữ của Người.
Cách mạng tháng Mười "chưa hoàn thành" những nhiệm vụ lịch sử gì?, chưa giải quyết xong "những vấn đề cơ bản" nào?... Đó là câu hỏi "để thấm nhuần được cái gì mới" cho tới nay, nhân loại tiến bộ vẫn đang phải tìm lời giải đáp.
Trong lúc tiến bộ xã hội đang cố gắng tìm câu trả lời cho những vấn đề đó, chúng ta hãy tạm thời tập trung chú ý vào những nhiệm vụ mà Cách mạng tháng Mười đã hoàn thành, đã giải quyết xong, để qua đó thấy được ý nghĩa thời đại của cuộc cách mạng vĩ đại này.
Sự phân tích khái quát nhất của Lênin về Cách mạng tháng Mười và ý nghĩa của nó được Người trình bày tại lễ kỷ niệm lần thứ tư: "Chúng ta có quyền tự hào và quả thật chúng ta tự hào là đã có cái hân hạnh được bắt đầu việc xây dựng nhà nước xô - viết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở khắp nơi đang tiến tới một cuộc đời mới, tới chỗ chiến thắng giai cấp tư sản, tới chỗ thành lập chuyên chính vô sản, tới chỗ giải phóng nhân loại khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa"
(3).
Nêu lên tính tất yếu lịch sử của các cuộc Cách mạng, Lênin chỉ rõ: "Cách mạng không diễn ra theo lối đặt hàng, người ta không định trước được cách mạng nổ ra vào lúc này lúc nọ, cách mạng chín muồi trong quá trình phát triển lịch sử và nó bùng nổ vào lúc mà hàng loạt những nguyên nhân ở trong nước và ở nước ngoài quyết định"
(4). Bởi thế, với cách mạng Nga, "phải thấy rõ được bản chất, tính chất cơ bản của chủ nghĩa tư bản và xã hội tư bản, sự phát triển tất yếu của chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản", và "thấy được bản chất của chủ nghĩa đế quốc và các cuộc chiến tranh đế quốc làm cho chủ nghĩa tư bản mau chóng đi đến sụp đổ và làm cho cách mạng vô sản trở thành vấn đề trước mắt"(5).
Nguyên nhân sâu xa của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga là ở chỗ nước Nga đã phải chịu đựng cái ách dã man nhất, ách của Nga hoàng và không một nước nào bị chiến tranh giày vò và làm cho kiệt quệ như nước Nga. Hơn nữa, bản thân nhân dân (công - nông- binh sĩ) "đã phải chịu đựng những hậu quả của chiến tranh, đã thấy sự bế tắc trong xã hội cũ và thấy bọn tư bản đã dùng hết những thành tựu tuyệt vời của kỹ thuật và văn hoá để gây ra cuộc chiến tranh huỷ diệt và con người đã trở nên hung ác, dã man và đói khổ. Đó là điều mà bọn tư bản đã làm và vì thế cho nên vấn đề đặt ra với chúng ta là: hoặc chết, hoặc phá đến tận gốc rễ cái xã hội tư sản cũ đó"
(6).
Cuộc Cách mạng nổ ra chứng minh chân lý có áp bức tất phải có đấu tranh, sự áp bức tàn bạo của CNTB không thể cứu xã hội tư sản khỏi những tàn lửa từ những đám mây của giai cấp vô sản rơi xuống mái nhà của chúng, càng "không thể dùng một vạn lý trường thành nào để ngăn cách khỏi nước Nga" một cuộc cách mạng làm cho CNTB phải sụp đổ.
Tính thời đại, ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của Cách mạng tháng Mười là ở chỗ:
1. Cuộc Cách mạng tháng Mười nổ ra và thắng lợi đã chấm dứt lịch sử các giai cấp bóc lột kế tiếp nhau thống trị ở nước Nga, chấm dứt thời kỳ đen tối dài dằng dặc của nhân dân lao động Nga, chấm dứt thời đại CNTB áp bức bóc lột toàn thế giới, lần đầu tiên "đã bẻ gãy xiềng xích của chiến tranh đế quốc chủ nghĩa"
Cách mạng tháng Mười đã "chứng tỏ rằng do hoàn cảnh không có lối thoát của toàn thể nhân loại sau chiến tranh mà đã nảy sinh ra cuộc cách mạng đó, và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trở thành vô địch"
(7).
Cách mạng đã chỉ rõ rằng "chiến tranh nhất định sẽ đưa toàn xã hội tư sản đến chỗ tan dã, chiến tranh đang biến thành một cuộc chiến tranh của những người lao động chống bóc lột" và "khi giai cấp vô sản có thể thoát được các tai hoạ khủng khiếp của cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa và đã có thể xây dựng lên một toà lâu đài cách mạng xã hội chủ nghĩa trên đống điêu tàn của cái kiến trúc mà nó đã phá huỷ thì nhất định nó sẽ thắng"
(8).
Cách mạng tháng Mười cũng đã chứng tỏ: "Chủ nghĩa đế quốc thế giới không ra khỏi cuộc chiến tranh hiện đại, nếu không có một hoạt động cách mạng, cuộc chiến tranh đó chỉ kết thúc bằng thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội mà thôi"
(9). Đây là một sự chỉ dẫn sâu sắc và xác đáng của Lênin cho những dân tộc bị áp bức và phụ thuộc trên thế giới thoát khỏi cuộc chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc để đứng lên xây dựng chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.
Cách mạng tháng Mười là một cuộc cách mạng diễn ra hết sức nhanh chóng và ít đổ máu nhất trong lịch sử loài người. Chỉ "trong vòng có vài ngày đã lật đổ được chế độ quân chủ, trong có vài tháng đã thủ tiêu được tất cả mọi mưu toan thoả hiệp với giai cấp tư sản, và trong có vài tuần đã đập tan được sự phản kháng của giai cấp tư sản trong cuộc nội chiến"
(10).
Cách mạng tháng Mười đã nêu lên một sự thật, mà "sự thật vẫn là sự thật, từ hàng trăm, hàng nghìn năm nay, đây là lần đầu tiên mà lời hứa "đáp lại" cuộc chiến tranh chống bọn chủ nô bằng một cuộc cách mạng của những người nô lệ chống bọn chủ nô đủ loại, lời hứa ấy đã được thực hiện một cách triệt để và đang tiếp tục được thực hiện bất chấp mọi khó khăn"
(11).
Cách mạng tháng Mười khẳng định người dân Nga "có quyền tự hào và sung sướng là người đầu tiên vật ngã, ở một góc của quả đất, con thú dữ ấy là chủ nghĩa tư bản, nó đã dìm thế giới trong máu, đã làm cho loài người lâm vào tình cảnh đói rét và dã man, nhưng dù trong cơn giãy chết, nó có hung hãn quái ác và tàn bạo đến đâu đi nữa, thì cuối cùng nó cũng nhất định bị tiêu diệt và đang sắp bị tiêu diệt"
(12).
Hơn 80 năm sau sự vật ngã của con thú dữ CNTB, nó lại có thể ngóc đầu lên được nhờ sự đổi mới và thích ứng với những hình thức bóc lột mới. Nắm trong tay những nguồn lực khổng lồ về kinh tế, tài chính, khoa học, kỹ thuật, công nghệ,…, nhưng CNTB không phải là chế độ xã hội cho phép khắc phục được tất cả những vấn đề toàn cầu hiện nay. Nó vẫn đẩy thế giới "vào tình cảnh đói rét và dã man", vẫn dìm thế giới trong máu của các cuộc chiến tranh, xâm lược và can thiệp thô bạo. Mỗi bước đi của nó lại càng dấn sâu hơn vào những mâu thuẫn nội tại cực kỳ nan giải và càng đẩy tới xu thế tự phủ định. Theo lời đoán định của Lênin thì CNTB ngày nay cũng "đang sắp bị tiêu diệt", bởi theo quy luật khách quan của lịch sử, CNTB đang tạo ra những tiền đề khách quan ngày càng nhiều hơn cho CNXH và sớm muộn nó cũng sẽ được thay thế bằng một chế độ xã hội mới cao hơn, đó là chủ nghĩa xã hội. Điều đó chứng tỏ Cách mạng tháng Mười đã mở đầu lịch sử giai cấp công nhân cùng nhân dân lao động nước Nga vùng lên làm chủ vận mệnh của mình, mở đầu kỷ nguyên tràn đầy ánh sáng tự do trên một đất nước rộng lớn bao la, từ vùng Đông Âu qua suốt bề ngang lục địa châu Á đến tận Thái Bình Dương, mở ra cho toàn thế giới thời đại mà nội dung cơ bản là sự quá độ từ CNTB lên CNXH. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: thắng lợi của Cách mạng tháng Mười đã chiếu rọi lịch sử của các dân tộc, tạo nên một thời đại mới, thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và sụp đổ của CNTB.
2. Khẳng định sức mạnh tự giải phóng của quần chúng nhân dân và Cách mạng đã đưa họ vào con đường sáng tạo cuộc sống mới
Cách mạng tháng Mười thắng lợi cho thấy "quần chúng lao động đã tạo ra trong hàng ngũ của họ điều kiện chủ yếu của thắng lợi đó: hợp nhất tất cả những sự cố gắng chống bọn bóc lột để lật đổ chúng". Điều đó "có ý nghĩa lớn trên thế giới". Cách mạng đã "thức tỉnh và phát động chính những tầng lớp xã hội "bên dưới" đứng lên hành động, những tầng lớp mà bọn bóc lột đã dìm xuống tận đất đen và chỉ sau ngày 25 tháng Mười 1917, họ mới được toàn quyền tự do lật đổ bọn bóc lột, tự do định phương hướng cho mình và tổ chức nhau lại theo ý muốn của mình"
(13).
Cách mạng tháng Mười đã đưa những tầng lớp dưới nhất trong số các quần chúng cần lao bị chế độ Nga hoàng và giai cấp tư sản áp bức lên chỗ tự do và lên một cuộc sống tự lập. Cuộc Cách mạng đó "vĩ đại và vô địch trước lịch sử toàn thế giới - vì lần đầu tiên đây không phải là những thiểu số, không phải chỉ độc những người giàu, chỉ độc những tầng lớp có học, mà là quần chúng chân chính, quảng đại quần chúng lao động đang tự xây dựng đời sống mới của mình, đang dựa vào kinh nghiệm bản thân để giải quyết những vấn đề gay go nhất của tổ chức xã hội chủ nghĩa".
Thực tế chỉ cho chúng ta thấy rằng, không phải ai cũng có thể nhìn nhận và đánh giá đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng mà "chỉ có người nào tin tưởng vào nhân dân, dấn mình vào nguồn sáng tạo sinh động của nhân dân mới là người chiến thắng và giữ được chính quyền". Lênin là một tấm gương về sự dấn thân vào nguồn sáng tạo của nhân dân. Trong thời đại ngày nay, lời tuyên bố về sức mạnh sáng tạo và tính tự giác của quảng đại quần chúng lao động trong cách mạng vẫn được khẳng định: "thắng lợi sẽ thuộc về những người bị bóc lột, vì cuộc sống ủng hộ họ, vì họ có sức mạnh về số lượng, sức mạnh của quần chúng, những nguồn vô tận về lòng hy sinh, về lý tưởng, về tính trung thực của những người mà người ta gọi là "dân thường", tức là những công nhân và nông dân đang đứng lên phía trước, đang giác ngộ để xây dựng một thế giới mới có những dự trữ nghị lực và tài năng hết sức lớn lao. Thắng lợi thuộc về họ"
(14).
Lênin nhấn mạnh rằng, sức mạnh, sức sống, sức vô địch của cuộc Cách mạng tháng Mười 1917 là ở chỗ nó thức tỉnh được những đức tính ấy (tính tự giác và sáng tạo của nhân dân lao động), nó đạp đổ mọi trở lực cũ, nó chặt được những dây ràng buộc đã mục nát, nó đưa được quần chúng lao động vào con đường tự mình sáng tạo lấy cuộc sống mới. Nếu như trước kia, tất cả trí tuệ của loài người, tất cả thiên tài của con người sáng tạo ra chỉ để đem lại cho một số người toàn bộ lợi ích của kỹ thuật và văn hoá, và tước đoạt của đại đa số người khác những cái cần thiết như giáo dục và tiến bộ,… thì sau Cách mạng tháng Mười, "tất cả những cái kỳ diệu của kỹ nghệ, tất cả những thành quả của văn hoá, sẽ trở thành tài sản của nhân dân, và từ nay, không bao giờ trí tuệ cũng như thiên tài của loài người bị biến thành những phương tiện bạo lực, những phương tiện bóc lột nữa"… "Những người lao động sẽ thực hiện thành công nhiệm vụ lịch sử vĩ đại đó, vì họ mang trong bản thân họ những lực lượng tiềm tàng to lớn của cách mạng, của sự phục hưng và của sự đổi mới"
(15). Những nhận định này của Lênin là những chân lý về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân, khẳng định sự phát triển lịch sử thuộc về sức mạnh vật chất và sức mạnh trí tuệ của quần chúng lao động.
Cách mạng tháng Mười đã giải phóng toàn thể nhân dân lao động, trong đó, lần đầu tiên địa vị của phụ nữ được khẳng định. Lênin viết: "Địa vị của phụ nữ chứng minh đặc biệt rõ sự khác nhau giữa chế độ dân chủ tư sản và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa,… Dưới chế độ cộng hoà tư sản, dù đó là chế độ dân chủ nhất đi nữa, thì ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, ở bất kỳ nước tiên tiến nào, địa vị của phụ nữ cũng không được hoàn toàn bình quyền"
(16)… Dưới chủ nghĩa xã hội, "bước chủ yếu là thủ tiêu chế độ tư hữu về ruộng đất, công xưởng và nhà máy. Chính nhờ thế và chỉ có như thế mới mở được con đường giải phóng hoàn toàn và thật sự cho phụ nữ, mới thủ tiêu được "chế độ nô lệ gia đình" nhờ có việc thay thế nền kinh tế gia đình cá thể bằng nền kinh tế xã hội hoá quy mô lớn".
Như vậy, Cách mạng tháng Mười đem lại quyền tự do, bình đẳng và chất sáng tạo trong việc thúc đẩy lịch sử phát triển của toàn thể nhân dân lao động. Cách mạng tháng Mười đã chứng minh bài học "muốn cách mạng thành công thì phải lấy dân chúng (công - nông) làm gốc"
(17). Thắng lợi có ý nghĩa quốc tế của Cách mạng tháng Mười là khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân là lực lượng chủ yếu trong cuộc đấu tranh giai cấp của thời đại hiện nay, và là người đi tiên phong mang ngọn cờ xã hội chủ nghĩa đến đích cuối cùng.
3. Cách mạng tháng Mười đã mở đầu một thời đại mới - lần đầu tiên, quần chúng bị áp bức tự mình đứng ra thành lập chính quyền - Nhà nước vô sản
Cách mạng đã phá huỷ tới tận gốc bộ máy nhà nước cũ và thành lập một bộ máy quản lý mới dưới hình thức các tổ chức xô-viết. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới mang đậm dấu ấn của một thời đại mới với sự "thiết lập một kiểu nhà nước mới chưa từng thấy trong lịch sử, một nhà nước thể theo ý chí của cách mạng mà có nhiệm vụ quét sạch khỏi mặt đất mọi sự bóc lột, mọi bạo lực, mọi sự nô dịch"
(18). Sự nghiệp sáng tạo ra một kiểu chế độ nhà nước xưa nay chưa từng có của Cách mạng Nga khiến cho nó khác hẳn về chất so với tất cả các cuộc cách mạng trước đây. Cách mạng tháng Mười chứng minh rằng, nó không phải là điều mà người ta tự ý bịa đặt ra, càng không phải là một kết quả của một thủ đoạn đảng phái, không phải là một cuộc bạo loạn điên cuồng, mà là kết quả của sự phát triển của bản thân cuộc sống, là kết quả của sự hình thành tự phát của cách mạng thế giới. "Những cuộc cách mạng trước đây đã ra sức chính là để đập tan cái bộ máy nhà nước cũ đó của bọn bóc lột, nhưng mãi cho đến nay những cuộc cách mạng đó vẫn chưa bao giờ hoàn thành triệt để được điều đó. Do những đặc điểm về tình hình kinh tế và chính trị của mình, nước Nga đã là người đầu tiên thực hiện được việc chuyển chính quyền vào tay bản thân những người lao động, nghĩa là nó không những giành lấy quyền chính trị, mà còn đoạt lấy chính ngay việc quản lý bộ máy nhà nước trong tay những giai cấp thống trị, trong tay những kẻ bóc lột và áp bức những người lao động, nhằm vĩnh viễn chấm dứt mọi sự bóc lột và mọi sự áp bức"(19).
Như vậy, tính thời đại có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của Cách mạng tháng Mười còn ở chỗ, lần đầu tiên trong lịch sử loài người đã thực tiễn đặt ra những nhiệm vụ cơ bản của chuyên chính vô sản, đó là thủ tiêu chế độ người bóc lột người, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khẳng định nền chuyên chính vô sản, Cách mạng tháng Mười đã lập nên một kiểu nhà nước mới - Nhà nước XHCN xô-viết, "đã mở đầu cho một cái gì lớn lao, mới mẻ, từ trước cho tới bây giờ chưa hề có trong lịch sử thế giới". Nhà nước XHCN ra đời đồng thời khai sinh ra "một chế độ dân chủ cao hơn và rộng hơn tất cả những chế độ dân chủ trước kia trên thế giới và mở đầu công cuộc sáng tạo của hàng chục triệu công nhân và nông dân nhằm thực hiện chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn"
(20).
Với sự ra đời của một kiểu nhà nước hoàn toàn mới và nền dân chủ thực sự, Cách mạng tháng Mười "là cuộc cách mạng vô sản - cuộc cách mạng duy nhất có thể cứu vãn nền văn hoá đang lâm nguy và nhân loại đang lâm nguy". Cách mạng Nga đã đưa loài người thoát khỏi nền văn minh tư bản chủ nghĩa. Nó không chỉ bắt đầu thực hiện ước vọng của các nhà tư tưởng vĩ đại - đại biểu tiên tiến của loài người về một chế độ được xây dựng trên nền tảng của CNXH, mà còn hoàn thành thắng lợi của cuộc đấu tranh nhiều thế kỷ của những ai không chấp nhận bạo ngược của giai cấp chủ nô, địa chủ phong kiến và tư bản tham tàn, đứng lên giành lấy quyền sống theo những nguyên tắc của tình người.
4. Cách mạng tháng Mười đã sáng lập ra nền văn minh XHCN - nền văn minh nhân đạo khác hẳn và hơn hẳn với nền văn minh phương Tây trước đây. Tồn tại hơn 70 năm ở đất nước Liên Xô, nền văn minh xã hội chủ nghĩa, đúng hơn là những mầm mống của nền văn minh xã hội chủ nghĩa, đã chứng tỏ sự khác biệt hoàn toàn, mới về chất so với văn minh tư sản.
Ngay sau khi Cách mạng thành công, trong công cuộc xây dựng nền tảng văn minh XHCN, Lênin đã nhấn mạnh tính kế thừa trong sự phát triển, không phủ nhận hoàn toàn CNTB trong việc sáng tạo văn hoá. Người cho rằng, cần phải áp dụng triệt để những thành tựu mới nhất của kỹ thuật hiện đại và khoa học tiên tiến vào phát triển đất nước, phải "biến toàn bộ cái vốn có vô cùng phong phú về văn hoá, về tri thức và về kỹ thuật mà chủ nghĩa tư bản đã tích luỹ lại, cái vốn mà về mặt lịch sử tất phải cần thiết cho chúng ta - biến tất cả những cái đó từ chỗ là công cụ của chủ nghĩa tư bản thành công cụ của chủ nghĩa xã hội"
(21). Lênin kêu gọi cần phải thực tế nắm lấy nền văn hoá đã được tạo nên bởi những quan hệ sản xuất cũ và lưu lại với tính cách là cơ sở vật chất của CNXH.
Sự phát triển của nền văn minh, văn hoá XHCN được bắt đầu từ ngay sau khi Cách mạng tháng Mười giành thắng lợi là sự thể hiện trên thực tế đạo lý của một tổ chức đời sống xã hội mới - là tấm gương phản chiếu ý nghĩa lịch sử của những nguyên lý đạo đức cách mạng XHCN cao nhất. Nền văn minh XHCN đã kết thúc sự tồn tại của chế độ người bóc lột người, chỉ ra con đường tiến tới sự phồn vinh của tự do và công bằng xã hội, thức tỉnh hàng chục triệu quần chúng lao động sáng lập nên lịch sử, đặt nền móng đầu tiên cho quá trình xoá bỏ thứ đạo đức tư nhân trong ý thức con người, kế thừa những truyền thống vinh quang, những giá trị tinh thần cao quý và tất cả những gì tốt đẹp nhất đã được trí tuệ con người và những trái tim đầy nhiệt huyết đúc kết trong nhiều thế kỷ.
Lịch sử nhân loại đầu thế kỷ XX chứng kiến Cách mạng tháng Mười "vạch ra cho toàn thế giới những con đường dẫn tới chủ nghĩa xã hội", "ngưỡng cửa trực tiếp đi đến CNXH. Nhưng đến cuối thế kỷ XX, nhân loại lại bàng hoàng trước sự kiện hệ thống xã hội chủ nghĩa được thiết lập sau Cách mạng tháng Mười bị tan rã. Tuy nhiên, nghịch lý lịch sử đó chỉ nói lên sự sụp đổ của một mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu chứ không phải là sự sụp đổ hoàn toàn của CNXH với tính cách là một chế độ xã hội tiến bộ, cao hơn CNTB. Lênin chỉ ra rằng, Cách mạng tháng Mười không chỉ có vạch đường chỉ lối dẫn tới CNXH mà mục tiêu của cuộc đấu tranh đó là "thắng lợi hoàn toàn của CNXH". Sự kiện diễn ra ở Liên Xô sau 74 năm Cách mạng tháng Mười đó đã chứng tỏ lời nhận định sâu sắc của Lênin: "Tính chất máy móc hành chính và quan liêu không dung hợp được với tinh thần của chủ nghĩa xã hội" bởi "chủ nghĩa xã hội không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống" mà "chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng… tính sáng tạo sinh động của quần chúng, đó là nhân tố cơ bản của xã hội mới"
(22).
Thời đại mới do Cách mạng tháng Mười mở ra vẫn chưa kết thúc mà mới chỉ là những bước đi đầu tiên. Thời đại ngày nay vẫn đang là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Đi lên CNXH là con đường tất yếu mà Cách mạng tháng Mười vạch ra, nhưng có thể bằng nhiều hình thức, biện pháp thích hợp. Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của xã hội Trung Quốc và sự thành công rực rỡ của Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đi lên CNXH, sự kiên cường của dân tộc CuBa,…là minh chứng thực tiễn cho sự nhận định của Lênin: "Chừng nào chúng ta chưa thực hiện được chủ nghĩa cộng sản toàn vẹn thì không một hình thức nào vĩnh viễn cả. Chúng ta không cho là chúng ta biết rõ con đường chính xác nhưng chắc chắn và nhất định chúng ta sẽ đi tới chủ nghĩa cộng sản"
(23).
Thực tế lịch sử thế kỷ XX cho thấy "lịch sử tiến theo những con đường ngoằn nghèo và những con đường vòng" và "cách mạng không khi nào lại diễn biến một cách thuận buồm xuôi gió để đảm bảo cho chúng ta một cao trào nhanh chóng và dễ dàng. Không có một cuộc cách mạng lớn nào, thậm chí một cuộc cách mạng trong phạm vi một nước, lại không trải qua một thời kỳ thất bại nặng nề"
(24). Sự nhìn nhận của Lê nin quả thật là hết sức sâu sắc. Thời kỳ thất bại của cách mạng XHCN chỉ là có tính chất tạm thời, đó là sự khủng hoảng trong quá trình phát triển đi lên. Chân lý sáng ngời do Cách mạng tháng Mười đem lại cùng những thành quả thực tiễn của 70 năm xây dựng CNXH ở Liên Xô vẫn chứng minh bước mở đầu của cuộc cách mạng XHCN thế giới.
5. Cách mạng tháng Mười đánh dấu sự bùng nổ lan toả của cách mạng XHCN quốc tế
Lênin cho rằng "ý nghĩa quốc tế là giá trị quốc tế hoặc là sự tất yếu lịch sử được lặp lại trên phạm vi quốc tế cái diễn ra ở nước ta". Cách mạng tháng Mười đã thức tỉnh lòng tin của hàng triệu và hàng triệu công nhân tất cả các nước vào sức mạnh của bản thân họ và đã nhen lên ngọn lửa nhiệt tình cách mạng trong lòng họ.
Sau sự kiện Cách mạng tháng Mười, sự phát triển của phong trào cách mạng của giai cấp vô sản trong tất cả các nước tiên tiến, sự xuất hiện và phát triển ở khắp nơi của hình thức xô-viết của phong trào đó chỉ rõ rằng, thời đại cách mạng vô sản, cách mạng cộng sản thế giới, đã bắt đầu. Theo Lênin "ngày nay, chúng ta có trước mắt một kinh nghiệm quốc tế rất phong phú chứng thực hiển nhiên rằng một số đặc điểm cơ bản của cuộc cách mạng của ta không phải chỉ có ý nghĩa địa phương, ý nghĩa đặc thù dân tộc, ý nghĩa riêng cho nước Nga mà có ý nghĩa quốc tế … nó tác động đến tất cả các nước".
Cách mạng tháng Mười đã để lại những dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch sử nhân loại. Ngay từ những ngày đầu Cách mạng, nước Nga đã trở thành một thành trì vững chắc, và là một tác nhân kích thích mạnh mẽ đến tiến trình hoà bình thế giới, đảm bảo thắng lợi cho các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh. Lênin viết: mọi người đều nhìn thấy ở Cách mạng Nga một nguồn hy vọng, bởi vì nó là bó đuốc sẽ châm ngòi lửa khắp năm Châu. Nó "đã thành một hiện tượng thế giới, chính toàn thể giai cấp tư sản cũng nói như vậy, và lời thú nhận đó chứng tỏ hùng hồn rằng, cuộc cách mạng của chúng ta đã lan từ Đông sang Tây, nơi mà nó gặp được một cơ sở ngày càng thuận lợi". Trong đám lửa cháy đang lan ra toàn thế giới đó thì "chỉ có chính quyền của những người lao động mới có thể chiến thắng được chủ nghĩa tư bản thế giới".
Đáp lại những kẻ xuyên tạc, Lênin khẳng định: Cách mạng tháng Mười "chỉ là bước đầu của một cuộc cách mạng thế giới vĩ đại. Và cuộc cách mạng vĩ đại đó, chính chúng ta là những người phát động, chúng ta, dân tộc Nga "kỳ cục" và lạc hậu đấy… Cần phải nói rằng, lịch sử tiến theo những con đường rất lạ lùng; chính một nước lạc hậu lại có vinh dự đi đầu một phong trào thế giới vĩ đại, giai cấp vô sản toàn thế giới đều thấy và đều hiểu vấn đề này. Đám lửa này đang bao trùm cả Đức, Bỉ, Thuỵ Sĩ, Hà Lan…"
(25). Bởi thế, theo Lênin, ngày nay, không có một nhà chính trị giác ngộ nào trên thế giới, dù thuộc đảng phái nào, lại có thể không thấy cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới đã bắt đầu và đang diễn ra.
Tuy nhiên, để cách mạng thế giới thành công, chỉ một mình giai cấp vô sản Nga thì không thể làm được. Lênin khẳng định: nếu không có liên minh cách mạng thì sự nghiệp giải phóng nhân loại không thể toàn thắng. Chiến thắng CNTB trên phạm vi thế giới một cách hoàn toàn, vĩnh viễn, đó là điều không thể làm được trong một mình nước Nga. Điều đó chỉ có thể đạt được khi giai cấp vô sản đã thắng, ít ra là trong tất cả các nước tiền tiến, hoặc ít nhất là trong số nước lớn. Chỉ đến lúc đó chúng ta mới có thể nói chắc rằng, sự nghiệp của giai cấp vô sản đã thắng, rằng mục tiêu đầu tiên của chúng ta - đánh đổ CNTB - đã đạt được.
Sở dĩ nhân dân Nga là người đầu tiên đã phất cao ngọn cờ cách mạng XNCN là vì họ hiểu rằng họ không bị lẻ loi trong cuộc đấu tranh đó, và được sự giúp đỡ của bạn bè trung thành nhất thì họ sẽ hoàn thành thắng lợi trong cuộc đấu tranh cách mạng đó. Cách mạng tháng Mười đã khôn khéo tránh cho nước Nga khỏi cuộc đấu tranh đế quốc chủ nghĩa, đã cứu đất nước khỏi mối thảm hoạ dân tộc mà các giai cấp bóc lột đã buộc đất nước phải chịu đựng, tránh cho nhân dân Nga khỏi nguy cơ bị nước ngoài nô dịch.
Cách mạng tháng Mười và phong trào xô-viết không chỉ còn là hình thức Nga của chính quyền vô sản nữa, mà theo Lênin, nó "đã trở thành lập trường của giai cấp vô sản thế giới trong cuộc đấu tranh của giai cấp đó để giành chính quyền". "Cách mạng XHCN tháng Mười đã trở thành một hiện tượng thế giới mà ý nghĩa quốc tế của nó chứng tỏ mong ước về một xã hội công bằng và bình đẳng, độc lập và dân chủ, lần đầu tiên "trở thành hiện thực trong xã hội, có sức mạnh vô cùng to lớn lôi cuốn hàng nghìn triệu người vào hoạt động cách mạng, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội"
(26).
Đối với số phận của các dân tộc ở phương Đông, Cách mạng tháng Mười có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn, có tính vạch thời đại, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức ở châu Á, chỉ cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc con đường tự giải phóng, nêu gương tự do dân tộc thực sự để các nước Á Châu vùng lên giành quyền sống. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã từng nói: đối với người Việt Nam, ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa Mác-Lênin tựa như nước uống đối với người đi đường bị khát, chờ đợi đã lâu ngày.
Ảnh hưởng quan trọng nhất của đối với cách mạng Việt Nam là thắng lợi của Cách mạng tháng Mười đã tạo ra một cuộc chuyển biến về tư tưởng trong các nhà cách mạng Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên tìm thấy chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã nhận thấy ý nghĩa sâu sắc của Cách mạng tháng Mười. Ánh sáng Cách mạng tháng Mười đã sớm chiếu sáng đến đất nước Việt Nam, soi sáng con đường cách mạng cho nhân dân Việt Nam, cổ vũ nhân dân Việt Nam làm cách mạng đánh đổ bọn đế quốc áp bức và bè lũ tay sai của chúng ở trong nước. Nó đã chỉ cho giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam con đường giải phóng dân tộc và tiến lên CNXH.
Nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh khẳng định trên báo Pravda: "Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế"
(27).
* *
*
Những nhiệm vụ lịch sử, những vấn đề cơ bản trên đây đã được Cách mạng XHCN tháng Mười Nga hoàn thành, song còn nhiều vấn đề cơ bản chưa được giải quyết, chưa được hoàn thành. Đó là sự thắng lợi hoàn toàn của CNXH - hình thái kinh tế - xã hội phát triển cao hơn về chất so với CNTB - trên phạm vi toàn thế giới đang chờ đợi nhân loại tiến bộ sáng tạo nên. Tuy nhiên, ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của Cách mạng tháng Mười dưới sự phản ánh của Lênin vẫn mang tính thời đại sâu sắc. Đây là cơ sở lý luận đúng đắn để nhìn nhận, đánh giá về tính chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng vĩ đại này. Lênin khẳng định: "Chính chúng ta đã bắt đầu sự nghiệp ấy… Bao giờ và trong thời đại nào thì người vô sản nước nào sẽ hoàn thành được sự nghiệp ấy, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng chính là băng đã tan, đường đã mở, lối đã vạch ra rồi"
(28).
Cách mạng tháng Mười như ngọn đuốc của chủ nghĩa xã hội quốc tế, như tấm gương soi cho tất cả mọi quần chúng cần lao. "Ở đằng kia là tàn sát, chiến tranh đổ máu, là hàng triệu nạn nhân, là sự bóc lột của tư bản; ở đây là một chính sách hoà bình chân chính".

* Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “85 năm Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại và công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay”, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tháng 11/2002.
(1) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Marxcơva, t.44, tr. 179.
(2) V.I. Lênin, sđd, t. 44, tr. 274.
(3) V.I. Lênin, sđd, t. 44, tr. 184-185
(4) V.I. Lênin, sđd, t. 36, tr. 661
(5) V.I. Lênin, sđd, t. 38, tr. 104
(6) V.I. Lênin, sđd, t. 35, tr. 367
(7) V.I. Lênin, sđd, t. 35, tr. 368
(8) V.I. Lênin, sđd, t. 37, tr. 89, 100
(9) V.I. Lênin, sđd, t. 37, tr. 19
(10) V.I. Lênin, sđd, t. 36, tr. 119
(11) V.I. Lênin, sđd, t. 44, tr. 187
(12) V.I. Lênin, sđd,t. 36, tr. 597
(13) V.I. Lênin, sđd, t. 36, tr 248.
(14) V.I. Lênin, sđd, t. 35, tr. 232-233.
(15) V.I. Lênin, sđd, t. 35, tr. 348.
(16) V.I. Lênin, sđd, t. 39, tr. 324.

Monday, August 13, 2007

Tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về con người và giáo dục con người
Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) là nhà tư tưởng tiêu biểu của lịch sử dân tộc, có nhiều đóng góp to lớn về mặt triết học, chính trị học, quân sự học, văn học, giáo dục,... Trong đó, vấn đề con người được ông quan tâm trước hết. Ông tiếp cận vấn đề con người và bản tính con người vừa trên cơ sở “thiên tính tự nhiên” vừa trong những mối quan hệ xã hội phức tạp. Đặc biệt, ông chỉ ra vai trò to lớn của điều kiện kinh tế và giáo dục đối với sự hình thành và thay đổi bản tính con người. Nhận thức được tính quy luật của sự phát triển xã hội, Ngô Thì Nhậm có những tư tưởng mang tính chất chiến lược về giáo dục và trọng dụng hiền tài. Với những đóng góp của mình, ông “mãi mãi là ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi”.
Nguyễn Bá Cường
Khoa Giáo dục Chính trị - Đại học Sư phạm Hà Nội
Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) là một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu trong lịch sử dân tộc. Sống trong thời kỳ của những chuyển biến xã hội hết sức lớn lao và nhanh chóng vào cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, ông đã có những cống hiến quan trọng đối với sự phát triển đất nước và của lịch sử tư tưởng Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Thì Nhậm đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu trên những phương diện khác nhau. Tuy nhiên, trên bình diện lịch sử triết học và tư tưởng giáo dục thì cần thiết phải làm sáng tỏ hơn nữa những đóng góp quý báu của ông về vấn đề con người, giáo dục con người và trọng dụng nhân tài trong sự nghiệp chấn hưng đất nước.
1. Về vấn đề con người
Trong toàn bộ tư tưởng của mình, vấn đề con người được Ngô Thì Nhậm quan tâm trước hết. Tiếp thu truyền thống tư tưởng phương Đông nhưng ông đã có những kiến giải mới mẻ, độc đáo về vấn đề con người, thể hiện trí tuệ của một nhà triết học. Bàn về vấn đề con người, Ngô Thì Nhậm chú trọng tới sự sinh thành và bản tính con người.
1.1.Về sự sinh thành con người
Ngô Thì Nhậm lý giải sự sinh thành con người dựa trên những tư tưởng triết học của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, sự hình thành con người được ông đề cập tương đối rõ nét. Xuất phát từ quan điểm trong Kinh Dịch: “Trời và người cùng chung một lý”- (“Lý” ở đây được hiểu như là quy luật vận hành tự nhiên của trời đất và muôn vật - N.B.C), ông coi sự xuất hiện của con người là do trời sinh ra. Nhưng khi nhìn nhận về sự sinh, diệt theo lẽ tự nhiên của con người thì ông lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Ông cho rằng, sự nhận thức về lẽ sinh - diệt của con người tất thảy “đều từ cái Tâm của con người tạo ra”. Mặc dù luận điểm này thể hiện rõ tính duy tâm, thần bí, nhưng khi kiến giải về mối quan hệ giữa ý (thuộc ý thức, tinh thần) với xúc (thuộc về cơ thể, vật chất) trong con người, Ngô Thì Nhậm đã có những kiến giải tinh tế. Theo ông, “người nào không có ý, không có xúc thì không thấy cái đó”, tức là không thể nhận thức được Tâm - cái tạo ra sự sinh, diệt trong con người. Mặt khác, ông thừa nhận hình thể của con người là do hình và khí tạo nên; do đó, không thể không bị quy luật sinh diệt chi phối. Ông nói: “Người thì có hình, có khí (chất), đã bị hạn chế ở trong hình và khí thì ai mà vô sinh được và ai mà vô diệt được?”(1). Ngoài việc xem hình, khí tạo nên con người, ông còn chú ý tới ảnh hưởng của điều kiện sinh hoạt thường ngày, đặc biệt là yếu tố dinh dưỡng đối với cơ thể con người. Ông viết: “cái thân của mình ta là do tinh khí tụ hợp, còn cái bộ dạng là do sự nhiễm tập ở nơi ăn ở, hoặc do sự thay đổi trong cách bồi dưỡng tẩm bổ”(2). ở đây, tuy quan điểm còn thô sơ, song cũng cho thấy đó là một cách nhìn thực tế.Không chỉ lý giải về sự sinh thành con người, Ngô Thì Nhậm còn quan tâm giải thích mối quan hệ giữa tinh thần và thân thể trong con người. Từ quan điểm của Nho giáo: “Tinh khí cấu tạo ra vật”, ông cho rằng: “Tinh thần cất giấu ở trong thân thể, thân thể là đồng một chất với trời đất”. Theo ông, thân thể là cái có giới hạn, còn “tinh thần thì không tiêu tan”; có như thế, con người “mới giữ được cái chân tướng của mình”. Do quan niệm tinh thần là yếu tố đầu tiên có trước thân thể, tinh thần mới là cái tồn tại lâu dài nên Ngô Thì Nhậm khuyên con người hãy giữ gìn và coi trọng tinh thần: “Sống thì giữ trang trọng, chết thì giữ rất nghiêm túc”. Ông nói tiếp: “Thân thể người ta đồng chất với trời đất, có tinh thần mới có cái thân thể này. Nếu biết giữ gìn trang nghiêm thì được cùng trời đất lâu dài vậy”(3). Lý luận trên cho thấy, ông đã bước sang lĩnh vực lẽ sống của con người, một lĩnh vực mà con người cần phải rèn luyện.Như vậy, trong quan niệm về sự sinh thành con người, Ngô Thì Nhậm đã thể hiện như một nhà triết học. Mặc dù vẫn chưa thể vượt ra khỏi khuôn mẫu truyền thống cũ, nhưng ông đã có những kiến giải sâu sắc, mới mẻ, đặc biệt là nhận định về ảnh hưởng của cách thức sinh sống và điều kiện dinh dưỡng đối với cơ thể con người.
1.2. Về bản tính con người
Bàn về bản tính con người, hầu hết các nhà tư tưởng Việt Nam ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của các học thuyết triết học phương Đông truyền thống. Ngô Thì Nhậm cũng không phải là ngoại lệ. Xuất phát từ quan điểm Nho giáo về “thiên tính”, “nhân tính”, ông quan niệm “mệnh” - “thiên tính” là cái toàn thể, rộng lớn như biển cả, bao quát như đất trời còn “tính người” thì rất nhỏ. Tính người “chỉ là một vốc nước con trong biển”, được chứa đựng trong cái toàn thể - mệnh. Điều đáng chú ý là, trong tư tưởng của mình, ông đã nhấn mạnh sự tác động của các yếu tố xã hội đến việc thay đổi bản tính con người.Khi bàn về bản tính con người, trước hết, Ngô Thì Nhậm tiếp cận trên cơ sở tự nhiên của nó. Ông gọi đó là “Thiên tính tự nhiên”.Từ quan điểm triết học “vạn vật đồng nhất thể”, ông cho rằng, con người cũng như vạn vật “đều có thiên tính tự nhiên của nó”(4). Vậy thiên tính tự nhiên là gì? Ông trích dẫn Kinh Thư: “Trời sinh con người có Dục” và lý giải: với con người, “Dục là tính [tự nhiên], nó ở trong nhật dụng thường hành, như đói thì muốn ăn, khát thì muốn uống, không có không được”(5). Theo đó, ngay từ khi sinh ra, con người được đã có tính tự nhiên - dục, mà dục được hiểu theo nghĩa là những nhu cầu tự nhiên của con người, do vậy việc đáp ứng những nhu cầu ấy là tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của họ. ở đây, khi nhìn nhận con người trong chính bản tính tự nhiên vốn có của nó, ông đã tuyệt đối hóa cái thiên tính tự nhiên đó. Ông cho rằng, “lòng người chẳng qua là lòng dục mà thôi”.Chịu ảnh hưởng sâu sắc của Tống Nho, Ngô Thì Nhậm đã chỉ rõ mối quan hệ giữa “tính trời” và “tình người”. Ông nói: “Trời cho người cái tâm có tính thường. Có cái tính của trời thì có cái tình của người”. Cũng như Tống Nho chủ trương “Tồn thiên lý, diệt nhân dục”, Ngô Thì Nhậm chủ trương xóa tất cả mọi dục vọng để “Tâm” được tuyệt đối trong sáng. Khi đề cao tuyệt đối cái thiên tính, ông còn yêu cầu con người phải diệt bỏ mọi dục vọng ngay cả trong ý nghĩ của mình. Theo ông, khi nhận thức, nếu “trong lòng chỉ một khối thiên lý, không hề có một mảy nhân dục riêng tây” thì có thể nhận thức đối tượng một cách “quang minh chính đại”, còn nếu “vọng tưởng quàng xiên, làm cho lòng dạ phiền nhiệt, càng tư tưởng càng bế tắc” thì không thể nhận thức được đối tượng. Chỉ khi con người diệt được “nhân dục” thì mới có thể nhận thức được “thiên lý” và noi theo nó(6).Thứ hai, xuất phát từ tư tưởng triết học về sự vận động của vũ trụ: “trên đời chẳng cái gì mà chẳng lưu hành, chẳng cái gì mà chẳng vận động”, Ngô Thì Nhậm cho rằng, “bản tính của con người” vừa động, vừa tĩnh, tùy theo hoàn cảnh, hành động và sự hiểu biết của mỗi người. Như vậy, ông đã tiếp cận con người trong mối quan hệ xã hội phức tạp, thấy rõ được sự tác động của những nhân tố xã hội đến sự thay đổi bản tính con người.Theo Ngô Thì Nhậm, con người vốn thiện, nhưng do hoàn cảnh mà thành ra bạc ác. Ông nói: “Ôi! Phàm đã làm người, ai chẳng muốn làm điều tốt, chỉ vì hoàn cảnh bắt buộc mới làm việc ác, để cho lương tâm mòn mỏi”. Điều đó, theo ông, có nguyên nhân từ những điều kiện kinh tế và xã hội. Việc “tụ lập bè đảng, lấy việc cưỡng bức để sinh nhai cũng là chỗ bất đắc dĩ, hoặc vì đói rét mà bức bách, hoặc vì bạo ngược xua đuổi, mới đến nương thân nơi sóng gió, không có lối thoát ra”(7). Từ quan niệm coi hoàn cảnh xã hội tạo nên con người, ông cho rằng, cần phải tạo ra được hoàn cảnh và những quan hệ xã hội tốt đẹp để hoàn thiện con người. Với quan niệm này, ông chủ trương dùng đạo lý để chế ngự con người, dùng lẽ phải để thu phục lòng người, khiến cho những người tài cán giỏi giang, “những đứa giặc nước đều có thể thành những bầy tôi lương đống”. Điều đặc biệt là, Ngô Thì Nhậm đã đề cập đến việc cần chú trọng giáo dục con người ngay từ khi còn là bào thai. Ngoài ra, ông còn chỉ rõ sự tác động của môi trường, điều kiện, hoàn cảnh gia đình đến việc hình thành tư chất, diện mạo của trẻ. Ông viết: “Con trai con gái mà giống cha giống mẹ là do sớm chiều ăn ở cùng nhau và cách thức bồi bổ dinh dưỡng thích hợp với nhau”. Tuy nhiên, cũng ở đây, ông đã không thể vượt qua được hạn chế của Nho giáo về sự phân chia thứ hạng người trong xã hội. Khi tuyệt đối hóa yếu tố trí tuệ bẩm sinh trong hai hạng người (thượng trí và hạ ngu) và phủ nhận cả những tư tưởng tiến bộ mà mình vừa khẳng định, ông cho rằng, “bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không thay đổi theo ngoại cảnh” (8).Như trên đã nói, trong con người, ngoài thiên tính tự nhiên do trời phú, còn có “Thiên lương” - cái đạo, tính tốt mà trời phú cho người. Theo Ngô Thì Nhậm, người nào mà không “có đạo người”, tức là “mất hết thiên lương, thì tính người tiêu diệt” và “phải đi vào cái đạo của súc sinh”. Muốn chặt đứt cái nghiệp căn, hay muốn không để mất thiên lương, tức là đạo người thì phải có một tia sáng - trí tuệ(9). ở đây, ông đã có lý khi đề cập đến vai trò của trí tuệ, như là ánh sáng soi rọi để con người giữ được đạo người, trở về với đức tính tốt trời phú cho.Ngô Thì Nhậm đi từ sự khác nhau về thể chất để nhận ra sự khác nhau về bản chất của mỗi người. Theo ông, cần phải dùng giáo dục, mà chủ yếu là thông qua giáo dục đạo làm người để cho bản chất con người trở nên gần nhau, giống nhau, làm cho quan hệ xã hội trở nên hài hòa để từ đó, xây dựng một xã hội có nền văn hóa, giáo dục hưng thịnh. Ông viết: “Người ta, mặt không giống nhau thì lòng cũng không giống nhau (…). Vậy thì ở chỗ không giống nhau đó, đem đạo lý bàn bạc với nhau để làm cho giống nhau, ở chỗ không thường tụ họp đó, ta lấy đức tính tốt khuyên bảo nhau để thường tụ họp; thờ thần minh không lỗi đạo thành kính, thờ vua cha không lỗi đạo trung hiếu, ở gia đình thì làm người lương thiện, ở làng xóm thì làm người nết na; thẳng thắn nhưng không tranh giành nhau, hòa nhã để cư xử với nhau. Khiến cho văn vật đời đời sáng láng, khoa mục ngày càng hưng thịnh”(10). Như vậy, có thể nói, trong tư tưởng Ngô Thì Nhậm về bản tính con người có nhiều điểm hợp lý, kế thừa được những giá trị trong lịch sử tư tưởng dân tộc. Ông thấy được vai trò to lớn của điều kiện kinh tế và những quan hệ xã hội, đặc biệt là thấy được tầm quan trọng của giáo dục trong việc hình thành và thay đổi tính người. Những quan niệm tích cực đó càng được thể hiện rõ nét khi ông bàn đến vai trò của giáo dục trong việc xây dựng con người, vai trò của hiền tài đối với quốc gia. Từ tư tưởng đó, ông đã đưa ra những chủ trương mới để dựng xây triều đại và chính những hành động thực tiễn của ông đã khẳng định tính đúng đắn, tiến bộ của nó ở một mức độ nhất định.
2. Về giáo dục và trọng dụng hiền tài
Hoạt động dưới lá cờ trọng dân, trọng nghĩa của triều đình Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm sớm đưa ra chủ trương “xây nền, dựng nước”: Xây nền bình trị của một quốc gia phải có “nhân chính tốt”. Dựng nước của cả dân tộc phải dựa vào muôn dân, trông cậy vào bề tôi hiền tài" (11). Để thực hiện chủ trương đó, trước hết, ông chú ý tới những vấn đề, như làm thế nào để có nền chính trị nhân nghĩa tốt, làm gì để có những người hiền tài,…? Trải nghiệm và suy ngẫm từ thực tế lịch sử, ông đã thấy được câu trả lời cho những vấn đề trên, đó chính là giáo dục. Với những tư tưởng sâu sắc, thể hiện trí tuệ của một trí thức dân tộc chân chính, Ngô Thì Nhậm đã đưa ra một tầm nhìn chiến lược về giáo dục và trọng dụng hiền tài.
2.1. Giáo dục - nền tảng của công cuộc dựng nước
Xây dựng đất nước văn hiến là đặc điểm lịch sử của dân tộc ta. Văn hiến - sự phát triển của văn hóa, giáo dục và sự phong phú về nhân tài - là niềm tự hào, đích phấn đấu, cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Trãi đã từng khẳng định điều đó trong Đại cáo bình Ngô: “Xét như nước Đại Việt ta, thật là một nước văn hiến”. Sau Nguyễn Trãi gần bốn trăm năm, Ngô Thì Nhậm đã tự hào tuyên bố về nền văn hiến Đại Việt. Ông đã kế thừa và phát huy được cách đúc kết lịch sử hay nhất dựa vào “văn hiến” của tiền nhân khi cho rằng: “Nước Việt ta lấy văn hiến dựng nước” (12). Nhận thức rõ vai trò của văn hóa, giáo dục đối với sự ổn định chính trị - xã hội, phục hưng đất nước, Ngô Thì Nhậm cho rằng: “Dựng nước lấy dạy học làm đầu” và giải thích rõ, giáo dục có “quan hệ đến đại điển buổi ban đầu, phải nên mài dũa hưng khởi ý chí,… cùng lên con đường rộng rãi, cùng giúp chính trị sáng trong”. Vì thế, theo ông, việc “lập giáo hóa, đặt khoa cử là quy mô lớn để chuyển loạn thành trị”, và đạo trị nước có ba “cái mấu chốt” luôn hỗ trợ lẫn nhau, có vai trò quan trọng như nhau là “giáo” (giáo dục), “pháp” (hình pháp) và “chính” (chính trị).Khảo sát lịch sử xã hội và từ sự nghiên cứu kinh sách, Ngô Thì Nhậm nhận thấy mọi triều đại đều đề cập đến “giáo”, “pháp” và “chính”. Ông cho rằng, “nền nếp thịnh trị của các đế vương đời trước” có ba điều lớn mà nhà vua phải chú ý, đó là “chính đức” - uốn nắn đức tốt cho dân (thông qua giáo hóa, giáo dục), “lợi dụng” - sinh lợi cho dân, “hậu sinh” - trông coi cho dân sống đầy đủ. Ông nhận định: “Đến đời sau, những người có quốc gia, không triều nào là không có “giáo”, không đời nào là không có “pháp”, không thời nào là không có “chính”. Song, vẫn có triểu đại không chấn hưng lên được, dù ở đó có “giáo”, có “pháp”, có “chính”. Bởi, vấn đề còn là ở chỗ khác.Phân tích mối quan hệ qua lại giữa “giáo”, “pháp” và “chính”, Ngô Thì Nhậm cho rằng, không phải thời nào cũng nhận thấy được “cái tinh thần của “giáo”, “pháp” và “chính””. Ông chỉ ra nguyên nhân của việc không thực hiện được những điều đó. Ông nói: người đương thời “chỉ nhìn thấy cái bên ngoài của “giáo”, “pháp” và “chính”” mà không thấy cái gốc của giáo, chính, pháp. Ông nói: “Sở dĩ “giáo” không phổ cập được là do học trò không được học, mà học trò không học là do thầy không tinh; sở dĩ “pháp” không được lập là do người giỏi không được dùng, mà người giỏi không được dùng là do thưởng phạt không công minh; sở dĩ “chính” không thi hành được là do kẻ lại không được liêm, mà kẻ lại không được liêm là do bổng lộc không được đủ. Song thầy giảng không tinh, thưởng phạt không công minh và bổng lộc không đủ, duyên cớ là đều do tình trạng thiếu thốn và sự thực thiếu thốn. Cho nên, dù có cấp bách lo việc này nhưng nếu không nắm được mấu chốt của nó, thì dù “trí” có thể biết được, nhưng “thế” vẫn không thể làm được”(13).Điều đó cho thấy, Ngô Thì Nhậm đã vượt xa nhận thức của nhiều bậc trí thức đương thời, tỏ rõ quan điểm duy vật khi giải thích “mấu chốt” của “những điều mấu chốt” trong đạo trị nước chính là “do tình trạng thiếu thốn và sự thực thiếu thốn" về kinh tế. Có thể, ông đã vận dụng bài học trong đạo trị nước mà Khổng Tử từng dạy học trò - “Tiên phú hậu giáo” (trước tiên làm cho dân giàu, sau đó giáo dục cho dân) trong việc phân tích lịch sử và thực tế xã hội Việt Nam đương thời.Ngô Thì Nhậm đã sáng suốt khi xác định “mấu chốt” của đạo trị nước, nhưng ông càng sáng suốt hơn khi biết phát huy sức mạnh của dân trong việc thực hiện “giáo”, “pháp” và “chính”. Ông cho rằng, từ kẻ hèn mọn cho đến nhân dân trong nước, thường ngày phải được cung cấp, nuôi dưỡng. Phải bằng chính sự chăm lo đến đời sống nhân dân thì triều đình mới thuyết phục được lòng người, huy động được sức dân. Làm được như vậy, triều đình mới “được đâu đấy hưởng ứng và đồng tình, như gió lướt ngọn cỏ, ức triệu lòng như một. Dựa vào đấy mà lập “giáo”, lo gì không có người dạy dỗ uốn nắn; dựa vào đấy mà lập “pháp”, lo gì không có người trông coi gìn giữ; dựa vào đấy mà lập “chính”, lo gì không có giúp đỡ khích lệ?”. Từ đó, “Dân không cần phải dắt bảo từng người mà vẫn tốt, tục không phải thay đổi hàng loạt mà vẫn hay, nhân tài không phải tìm ở nội cỏ mà tự nhiên đến, quan không cần phải đặt nhiều mà tự nhiên trị, nước không cần phải lấy của dân mà vẫn giàu, binh không phải xua ra trận mà vẫn mạnh”(14).Nhắc lại kinh nghiệm trị quốc của Thánh tổ Quang Trung, Ngô Thì Nhậm cho rằng, trong sáu công việc phải quan tâm (“Hóa dân, thành tục, cầu hiền, thẩm quan, phú quốc, cường binh”) thì “cả sáu việc ấy đồng thời cử hành, không cản trở nhau” và giáo dục phải được đặt lên hàng đầu. Nhưng mấu chốt của giáo dục lại là kinh tế. Ông nói: “Điều mấu chốt là phải đem cái tình trạng thiếu thốn và cái sự thực thiếu thốn mà nghiên cứu chỉnh đốn lại. Đó là cái tâm pháp làm chính trị của muôn đời”. Đồng thời, ông cũng đưa ra một số biện pháp góp phần củng cố thế nước vững bền, đó là: người trị nước phải biết lắng nghe dân chúng mà không sợ rườm tai, “hay hỏi và hay xét đến những lời nói gần gũi”, phải “coi thiên hạ là một nhà, coi cả nước là một người… phải nắm được điều mấu chốt. Sau đó, nếu lấy hiếu, đễ, trung, tín làm “giáo”, lấy gốc, ngọn, độ số làm “pháp”, lấy binh, tài, lễ, nhạc làm “chính”, thì có thể thừa sức thi thố”.Là người có đầu óc thực tế, khi coi cái mấu chốt nhất của đạo trị nước là đời sống kinh tế, nhưng khi xét hoàn cảnh cụ thể của nước ta, thì ông cho rằng, sau kinh tế, quan trọng hơn cả chính là nhân tố con người, là hiền tài. Bởi thế, ông nói: “Vua muốn nước “trị”, tất phải có người bề tôi giúp “trị”, sau đó “giáo”, “pháp” và “chính” mới có thể thực hiện được”. Đây chính là tư tưởng về sự cần thiết phải trọng dụng hiền tài trong công cuộc kiến thiết quốc gia.
2.2. Coi trọng và sử dụng người hiền tài
Nhận thức được điểm chung của sự phát triển xã hội, trong hầu hết các tác phẩm của mình, Ngô Thì Nhậm đều nhấn mạnh việc xây dựng triều đại phải có nhiều người hiền tài thì mới vững, việc bình trị thiên hạ phải có nền tảng đạo đức thì mới bền. Chúng ta thấy, ngay trong Chiếu lên ngôi (viết thay vua Quang Trung) - mở đầu của một triều đại mới, đã thấm đượm tư tưởng ấy. Đặc biệt, trong Chiếu lập học, ông nhấn mạnh: “Cầu trị lấy nhân tài làm gấp”. Đây là tư tưởng thể hiện tầm khái quát lý luận sâu sắc, thực sự có tác động đến chủ trương và thành quả phát triển của đất nước trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến động.Với những chủ trương, chính sách hợp tình, hợp lý, vì dân của triều đại Tây Sơn, thông qua ngòi bút tư tưởng, bằng sự lập luận chặt chẽ, đặc biệt là thái độ khiêm tốn, cầu thị, Ngô Thì Nhậm đã kêu gọi, thu phục được những người hiền tài ra giúp nước. Sự đề cao và khẳng định vị trí của trí thức Nho học và người hiền tài trong tư tưởng của ông là bài học quý báu cho đời sau.Ngay sau khi đánh tan quân xâm lược Mãn Thanh, vua Quang Trung nghĩ ngay đến việc phát triển giáo dục, đào tạo và trọng dụng nhân tài phụng sự đất nước. Triều Tây Sơn chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng là triều đại có những đóng góp to lớn về phương diện giáo dục và trọng dụng người tài. Ngô Thì Nhậm cho rằng, một trong những nguyên nhân dẫn đến việc trị nước “có nhiều điều làm cứng nhắc và phiền nhiễu” là do người đứng đầu “chưa biết cầu hiền để giúp đỡ”. Bởi thế, đứng trước thực trạng “việc học không được sửa sang, khoa cử bỏ dần, nhân tài ngày càng thiếu thốn", Ngô Thì Nhậm đã tỏ rõ được ý tưởng, tâm huyết của vua Quang Trung: “Trẫm khi vừa mới bình định, đã có nhã ý hậu đãi nhà Nho, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài để dùng cho quốc gia”.Dựng nước phải dựa vào người hiền tài, mà người hiền tài có ở trong dân. Nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của toàn dân, của những người hiền tài đối với sự nghiệp dựng nước, Ngô Thì Nhậm cho rằng, “Sức một cây gỗ không chống nổi tòa nhà to, mưu lược một kẻ sĩ không dung được cuộc thái bình. Hỏi rằng trong nước, một ấp mười nhà hẳn có người trung tín, huống chi trong cõi đất rộng lớn thế này, há lại không có người xuất kiệt hơn đời, để giúp rập chính sự buổi đầu…?”(15). ở đây, ông đã biết vận dụng tư tưởng nhập thế hành đạo của nhà Nho để tuyên truyền, khích lệ tinh thần dân tộc của nhiều trí thức. Cũng với thái độ trân trọng hiền tài, Ngô Thì Nhậm đã khích lệ sự cộng tác của các sĩ phu, người tài đức ra giúp nước. Ông nói: “Có tài mà không để cho đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền tài”; “Trời đất thanh bình, chính lúc người hiền tài gặp gỡ gió mây”; người hiền tài nên “lấy lòng vì Nghiêu Thuấn quân dân” mà ra giúp nước; “Lòng dân đen trông ngóng”, người hiền tài “nỡ lơ lảng được sao?”.Tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về trọng dụng người hiền tài không những thể hiện ở sự đánh giá cao vai trò của họ, mà còn ở việc bề trên cần biết cách sử dụng và phát huy tài năng của họ trong những lĩnh vực khác nhau. Ông đã đặt trách nhiệm cho người đứng đầu thiên hạ. Ông viết: “Người hiền ở trên đời cũng như sao sáng trên trời. Sao tất phải chầu về Bắc thần, người hiền tất phải do thiên tử sử dụng”. Nhưng thiên tử làm thế nào để có được người hiền tài mà sử dụng? Không thể dùng quân quyền để thúc ép sự cống hiến của họ, mà phải đi từ những chủ trương, chính sách hợp lòng dân, thuận lẽ trời. Chấp nhận ý kiến của ông, Quang Trung đã không câu nệ những người đến với mình là của triều trước, có khoa bảng hay không, miễn là có thực tâm và thực tài,… Nhờ vậy, triều đại Tây Sơn có được một hàng ngũ những nhà trí thức lỗi lạc, phò tá đắc lực cho đường lối chính trị đổi mới mang tính dân tộc. Ngô Thì Nhậm còn khuyên vua Quang Trung rằng, muốn cầu người hiền tài thì nhà vua phải “ao ước tìm thầy và mong được nhờ khuôn phép của kẻ tiên giác”, luôn luôn “im nghe lời dạy bảo, giúp đỡ” của bậc hiền tài, phải luôn “để ý lắng nghe, sớm hôm mong mỏi” thì những người tài cao, học rộng, đức trọng, chí bền mới ra phụng sự đất nước. Hơn nữa, việc đó phải được tiến hành thường xuyên, trước sau như một: “Lòng cầu hiền… há đâu sinh bụng trước siêng sau lảng”.Sự kiên trì và tấm lòng trọng hiền tài của Quang Trung và Ngô Thì Nhậm đã thu phục được rất nhiều nhân tài đất Bắc, đông đảo những nhân sĩ Thăng Long và Nghệ An, ngay cả những người trước đây vốn đã chống lại Tây Sơn, nặng lòng với triều cũ. Tiêu biểu như Phan Huy ích, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Thế Lịch, Vũ Huy Tấn, Trần Bá Lãm, Nguyễn Nha, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Bá Lân,… đã từng làm quan cho triều Lê - Trịnh, vui vẻ ra nhận công việc của triều Tây Sơn mà không bị ý thức trung quân cũ ràng buộc.Có hiền tài rồi thì một vấn đề khác đặt ra là phải bồi dưỡng người hiền tài như thế nào để có thể phát huy được vai trò của họ?Từ thực trạng nền giáo dục đương thời, Ngô Thì Nhậm nhận định rằng, người tài trong xã hội thông thạo việc đời và hiểu biết lòng người không phải là hiếm, nhưng do “không được dạy dỗ về hạnh”, không được trọng dụng nên dẫn đến tình trạng bất cần, “không thích sửa mình, (…), không cầu thực học, chỉ cầu hư danh”. Chính vì thế, theo ông, cần phải coi trọng sử dụng những người có “tư chất hơn người, bền lòng giữ đạo” để uốn nắn và nâng đỡ cho dân. Ông đưa ra yêu cầu phải kết hợp giữa dạy văn và dạy hạnh, vừa “phải biểu dương những người có đức hạnh tốt để làm mẫu mực” nhưng đồng thời phải “truất bỏ những người kiêu bạc để răn đe”(16).Trong hàng ngũ những người trí thức xưa nay thì nhà giáo bao giờ cũng được đề cao và được xã hội tôn vinh. Với Ngô Thì Nhậm, vấn đề tuyển chọn và sử dụng nhà giáo phải được quan tâm, bởi nhà giáo có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của quốc gia. Ông chẳng những khẳng định: “Dựng nước lấy dạy học làm đầu” mà còn nhấn mạnh rằng, “mọi việc trong vũ trụ đều là phận sự của nhà Nho chúng ta”. Ông đưa ra yêu cầu tuyển chọn nhà giáo: phải chọn lọc những “Nho sĩ có học thức, hạnh kiểm”, phải “chọn lọc kỹ những viên quan giảng dạy ở quốc học để làm khuôn mẫu cho học trò noi theo”, phải lựa chọn “người nào điềm đạm không cầu cạnh, ngay thẳng không xu phụ, có thể làm khuôn mẫu cho học trò”. Mặt khác, theo ông, cần phải “lấy ưu lễ đãi ngộ, cấp lương cho dồi dào, đề cao bề thế ông thầy, để cho học trò được phấn chấn, bồi dưỡng cho học cái khí “hạo nhiên” (chính khí của con người – N.B.C.), trau dồi cho họ thói quen liêm sỉ”. Đặc biệt, để đảm bảo chất lượng giáo hóa, ông lưu ý không nên để những người làm việc giảng dạy kiêm nhiệm những công việc khác. Ngoài ra, ông cũng đưa ra biện pháp cứng rắn đối với nhà giáo: “Kẻ nào dạy bảo không được, thì nạt bằng uy quyền, trị bằng hình pháp”(17).
Nhìn chung, đường hướng tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về một nền giáo dục mới đã được phác thảo, nhưng ông cũng không vượt khỏi được đường lối giáo dục theo tinh thần Nho giáo phong kiến. Nội dung giáo dục vẫn thiên về đạo làm người, coi trọng nền tảng đạo đức xã hội. Tuy nhiên, Ngô Thì Nhậm cũng thể hiện được những điểm tiến bộ so với các nhà tư tưởng trước đó. Ông đặc biệt chú trọng phương pháp nêu gương, học tập gắn liền với sự suy tư, sự trải nghiệm trong cuộc sống, tôn trọng cá tính sáng tạo, năng lực chủ quan của người học,… Về vấn đề trọng dụng hiền tài, ông không những phát huy được tinh thần trọng văn hiến đã từng được khắc ghi trên bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Hà Nội: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia...”, mà còn hiện thực hóa được tinh thần ấy trong một triều đại trọng hiền, trọng dân. Tư tưởng của ông cho thấy rằng, ở bất cứ thời đại nào, xã hội chỉ có thể phát triển bền vững khi nhân tố con người được coi trọng, vấn đề giáo dục và đào tạo được quan tâm thích đáng, những nhân tài thực sự được trọng dụng và được tạo cơ hội cống hiến cho đất nước.Như vậy, có thể nói, tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về con người, về nhân tài, về đào tạo những con người tài đức đã thể hiện một tầm khái quát lý luận sắc sảo từ lý luận truyền thống cũng như từ thực tiễn phong phú đương thời. Ông được vua Quang Trung đánh giá là người “có tài tùy cơ ứng biến, thông thạo việc đời”, “để phúc cho dân”. Những cống hiến to lớn của người trí thức chân chính Ngô Thì Nhậm được lịch sử ghi nhận và khẳng định như là sự kế tục, tiếp nối và phát huy được truyền thống tư tưởng mà Nguyễn Trãi đã nêu gương. Dưới ánh sáng tư tưởng của thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã phát huy và làm rạng rỡ được nền văn hiến lâu đời của dân tộc. Trong bối cảnh đó, Ngô Thì Nhậm được khẳng định là một nhân tài về triết học, chính trị học, quân sự học, văn học, giáo dục học,… Chúng ta không thể không thừa nhận ông “mãi mãi là ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi" (18).
Chú thích:
(1). Thơ văn Ngô Thì Nhậm, t.I - Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 72.
(2) Thơ văn Ngô Thì Nhậm, t.I. Sđd., tr. 83.
(3) Thơ văn Ngô Thì Nhậm, t.I. Sđd., tr. 147 - 148.
(4) Thơ văn Ngô Thì Nhậm, t.I. Sđd., tr. 62.
(5) Thơ văn Ngô Thì Nhậm, t.I. Sđd., tr. 66.
(6) Thơ văn Ngô Thì Nhậm, t.I. Sđd., tr. 76.
(7) Tổng tập văn học Việt Nam, t. 9A. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 91.
(8) Thơ văn Ngô Thì Nhậm, t.I. Sđd., tr. 84.
(9) Thơ văn Ngô Thì Nhậm, t.I. Sđd., tr. 87.
(10) Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, q.II. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 179.(
11) Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, q.I. Sđd., tr.371.
(12) Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, q.II. Sđd., tr.232.
(13) Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, q. II. Sđd., tr.155.
(14) Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, q. II. Sđd., tr.155.(
15) Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, q.II. Sđd., tr.124.
(16) Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, q.II. Sđd., tr.163.
(17) Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, q.II. Sđd., tr.166.
(18) Trường Chinh. Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (in lần thứ hai). Nxb Sự thật, Hà Nội, 1974, tr.34.
Tạp chí Triết học, số 4 (179), tháng 4 - 2006

MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Người được thế giới biết đến bởi thiên tài quân sự của ông. Nhưng điều đặc biệt ở Đại tướng là “võ - văn song toàn”. Chính vì thế, nhiều người tôn xưng ông là bậc “Nho tướng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi tên ông thân mật - “chú Văn”. Không chỉ thành danh bậc nhất trong lĩnh vực quân sự, mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của các ngành khoa học, giáo dục nước nhà khi ông làm Phó Thủ tướng Chính phủ, trực tiếp chỉ đạo công tác khoa học và giáo dục.
ThS. Nguyễn Bá Cường

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay, đọc lại những bài nói, bài viết của Đại tướng về lĩnh vực giáo dục
* trong những năm 80 của thế kỷ trước, chúng tôi thực sự khâm phục về những tư tưởng chỉ đạo sát sao mang tầm chiến lược của ông. Xuyên suốt, nổi bật trong các bài nói, bài viết đó là mục tiêu xây dựng con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa, là chủ trương phát triển toàn diện con người, là tư tưởng chỉ đạo đổi mới mạnh mẽ, cải cách triệt để nội dung và phương pháp giáo dục. Cho đến nay, ngay cả khi tuổi đã cao nhưng ông vẫn dồn hết sức lực, trí tuệ và tâm huyết của mình cho sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục.

1. Chiến lược xây dựng con người Việt Nam mới XHCN phát triển toàn diện là quan trọng nhất trong chiến lược phát triển của đất nước
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”, Đại tướng khẳng định: Cần phải coi chiến lược con người, “tất cả cho con người và tất cả vì con người” có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Một trong những nhiệm vụ lớn lao có tầm quan trọng chiến lược trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên CNXH là đào tạo con người phát triển toàn diện, có tinh thần làm chủ và năng lực làm chủ, có tinh thần yêu nước và lý tưởng XHCN, có trình độ văn hoá và khoa học ngày càng cao, nắm vững kỹ thuật và công nghệ sản xuất, kể cả công nghệ và kỹ thuật cổ truyền, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, có cả những công nghệ hiện đại nhất. Đây chính là lực lượng sản xuất vĩ đại nhất, thế mạnh lớn nhất, có sức sáng tạo nhất. Trong sự nghiệp ấy, công tác giáo dục từ mẫu giáo đến đại học và trên đại học có nhiệm vụ cực kỳ to lớn. Vì vậy, đầu tư cho giáo dục về thực chất phải được coi là một bộ phận quan trọng trong chính sách đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những loại đầu tư có tầm quan trọng chiến lược và đem lại hiệu quả lớn lao (tr. 586-591).
Giáo dục phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, nhanh chóng xây dựng nước ta thành một xã hội học tập. Từ sự khẳng định: “Sự phát triển của con người là liên tục… Con người là một thể thống nhất với sự phát triển liên tục, không thể chia cắt được trong không gian, trong thời gian”, Đại tướng nhấn mạnh: Giáo dục với tư cách là quá trình hướng dẫn sự phát triển con người, cũng phải liên tục (tr. 537). Giáo dục thế hệ trẻ là một quá trình liên tục từ khi lọt lòng mẹ cho đến lúc trưởng thành và là sự nghiệp của toàn xã hội. Cần phải tạo ra được một môi trường giáo dục thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội, đảm bảo “giáo dục toàn diện, giáo dục thường xuyên, giáo dục liên tục”, thực hiện được sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trị, tư tưởng và lối sống XHCN, phổ cập văn hoá, khoa học, kỹ thuật và công nghệ song song với phổ cập nghề nghiệp (tr. 520). Ông chủ trương: cần phải hình thành trong toàn xã hội một phong trào, một nếp sống chăm lo học hành sôi nổi trong cả nước, học ở trường, học ở nhà, học ở xã hội, vừa học vừa làm, theo tinh thần “học tập, học tập nữa, học tập mãi mãi”. Học tập để thành con người mới XHCN, học tập để xây dựng thành công xã hội văn minh và hạnh phúc, học tập để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (tr. 524).
2. Xây dựng và phát triển khoa học giáo dục
Đại tướng nhận định: Khoa học giáo dục phải là một hệ thống quy luật tổng hợp, chịu sự tác động của các quy luật phát triển kinh tế - xã hội, quy luật nhận thức, quy luật tâm lý xã hội, quy luật phát triển sinh lý, quy luật kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nhằm đào tạo thế hệ trẻ từng bước trở thành con người mới XHCN Việt Nam (tr. 530). Vì vậy, cần tập trung trí tuệ, sức lực và các điều kiện vật chất cần thiết để nghiên cứu giải quyết những vấn đề cấp bách nhất, mấu chốt nhất của khoa học giáo dục ở nước ta (tr. 538). Từ bản chất của khoa học giáo dục, ông yêu cầu những người nghiên cứu khoa học giáo dục không những phải có trình độ trong lĩnh vực chuyên sâu mà còn phải có sự hiểu biết về nhiều mặt: về lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, về đường lối, chính sách của Đảng, về thực tiễn kinh tế - xã hội của Việt Nam, về con người Việt Nam xưa và nay, về những thành tựu trong các lĩnh vực văn hoá, khoa học kỹ thuật xưa và nay, về những thành tựu và cả những nhược điểm… của sự nghiệp giáo dục xưa và nay ở nước ta và ở các nước trên thế giới (tr. 530).
3. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo
Đại tướng cho rằng, giáo dục là một khoa học đồng thời là một nghệ thuật; nội dung giáo dục bao giờ cũng kết hợp chặt chẽ với phương pháp sư phạm. Vì thế, nội dung và phương pháp dạy - học cần hướng cho học sinh suy nghĩ về các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương,… để khi đi vào đời sống không bỡ ngỡ, không sống theo tập quán cũ… mà tích cực tham gia vào cuộc sống mới. Cần mau chóng và kiên quyết khắc phục tình trạng học sinh phổ thông ra trường không hiểu gì về đất nước, về địa phương; và không thể hiện đầy đủ lòng thiết tha đối với tiền đồ của quê hương, Tổ quốc (tr. 556). Phải kết hợp giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, công nghệ với lao động sản xuất theo ngành nghề ở mức độ khác nhau tuỳ theo từng lứa tuổi và tính chất của các trường nhằm biến tiềm lực khoa học kỹ thuật của nhà trường thành lực lượng sản xuất trực tiếp (tr. 595). Phải xác định cho được nội dung, phương pháp tối ưu để đào tạo con em chúng ta thực sự trở thành những người lao động giỏi trong các lĩnh vực và trên các địa bàn của đất nước phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp công nghiệp hoá nước nhà (tr. 535)
Chất lượng giáo dục đào tạo là chất lượng toàn diện (chính trị, chuyên môn, sức khoẻ) được xác định trên cơ sở mục tiêu giáo dục đào tạo của từng ngành học, từng loại hình giáo dục, từng cấp học gắn chặt với những mục tiêu kinh tế - xã hội của cả nước, từng ngành từng địa phương trong từng thời kỳ (tr. 493). Theo ông, để nâng cao chất lượng giáo dục, các nhà trường cần phải thực hiện những điều cụ thể như sau:
1) Giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức
Tuỳ theo từng lứa tuổi và trình độ cấp học mà giáo dục cho các em lòng yêu nước, lòng trung thành với lý tưởng cộng sản, ý thức và nhiệm vụ của người công dân, sẵn sàng tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giáo dục ý thức và thói quen chấp hành pháp luật và những quy tắc chung của tập thể; giáo dục tinh thần trách nhiệm trong học tập, trong công tác, đoàn kết, trung thực, giàu tình thương, trọng lẽ phải; giáo dục việc xây dựng lối sống theo nguyên tắc đạo đức “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; củng cố và phát triển niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng của đất nước, tiền đồ của dân tộc, chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội (tr. 514). Người giáo viên nhất định phải làm cho học sinh hiểu rõ tình hình của đất nước và nhiệm vụ của cách mạng. Phải dạy như thế nào để đến khi ra trường, các em có quyết tâm lao động xây dựng xã hội ở bất cứ lĩnh vực nào, trong bất cứ địa bàn nào của Tổ quốc và sẵn sàng xả thân bảo vệ Tổ quốc (tr. 532).
2) Giáo dục tri thức văn hoá và khoa học
Từ luận điểm của V.I.Lênin: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản sau khi đã làm giàu trí nhớ của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”, Đại tướng chỉ rõ: “Tri thức khoa học là một cơ sở rất quan trọng để trao đổi năng lực và phẩm chất đạo đức của con người mới (tr. 532-533). Vì thế, cần trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế, xã hội ở trình độ phổ thông tương đối hoàn chỉnh, cơ bản, hiện đại, Việt Nam, vừa phù hợp với nhu cầu thực tế trước mắt, lại vừa tạo khả năng phát triển về lâu dài… Cần nghiên cứu, lựa chọn kỹ càng để xác định chương trình biên soạn sách giáo khoa cho thật khoa học, thiết thực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng, khối để các em tiếp tục học hoặc đi vào nghề nghiệp. Nhất thiết phải làm và làm ngay, làm cho tốt việc tinh giản phần tri thức cơ bản, để các em có thì giờ học thêm về kiến thức kinh tế, lịch sử, địa lý của địa phương, nghe nói chuyện về các vấn đế thời sự tuỳ theo lứa tuổi, và nhất là học kỹ thuật, công nghệ và tham gia lao động sản xuất (tr. 515).
3) Chú trọng giáo dục lao động sản xuất và công tác hướng nghiệp
Xuất phát từ nguyên lý giáo dục học mácxít kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục trí tuệ, thể chất, đạo đức với lao động sản xuất - “phương pháp độc nhất và duy nhất để đào tạo ra những con người toàn diện” (C.Mác), Đại tướng cho rằng: Cần phải giáo dục ý thức lao động, tình cảm lao động, thói quen lao động vì tập thể, vì xã hội ngay từ tuổi thơ, từ vườn trẻ. Phải kiên trì rèn luyện cho học sinh có ý thức sâu sắc về lao động, lao động để xây dựng đất nước phồn vinh, quê hương tươi đẹp, lao động có kỹ thuật, có kỷ luật, với năng suất cao, chất lượng và hiệu quả tổt. Phải làm cho thế hệ trẻ coi đó là mục tiêu quan trọng để phấn đấu thực hiện. Cần nhận thức rõ rằng, càng làm tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông thì càng có điều kiện để tiến hành có hiệu quả về giáo dục tư tưởng chính trị, đồng thời phát huy mọi tài năng của thế hệ trẻ. Vì vậy, phải kiên quyết khắc phục tình trạng coi nhẹ và tự phát đang phổ biến trong việc hướng nghiệp cho học sinh phổ thông (tr. 559).
4) Giáo dục thể chất: Việc giáo dục và rèn luyện sức khoẻ trong nhà trường có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nhà trường phải giáo dục những kiến thức khoa học và những biện pháp cần thiết để rèn luyện thể chất, tăng cường sức khoẻ cho phù hợp với quy luật phát triển của từng lứa tuổi. Phải làm cho học sinh có ý thức: khoẻ để học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc.
5) Giáo dục thẩm mỹ: Đây không những là vấn đề quan trọng mà còn là vấn đề cấp bách hiện nay. Chúng ta cần giáo dục cho các em biết yêu chân lý, trọng lẽ phải, biết đánh giá và cảm thụ đúng đắn cái đẹp của con người, thiên nhiên, truyền thống dân tộc, đời sống xã hội, biết quý trọng các giá trị văn hoá truyền thống, các di tích lịch sử, văn hoá của đất nước và thế giới, biết giá trị và mến yêu nghệ thuật dân tộc, biết sống khiêm tốn, giản dị, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của đất nước, của gia đình, của bản thân (tr. 516).
Theo Đại tướng, nhân tố quyết định đối với chất lượng giáo dục là đội ngũ giáo viên và cán bộ giáo dục. Vì thế, cùng với việc bồi dưỡng trình độ văn hoá, khoa học và năng lực giảng dạy, nghệ thuật sư phạm cho giáo viên, cần chú ý thích đáng tới việc bồi dưỡng nâng cao phẩm chất chính trị, lòng say mê thiết tha yêu nghề, năng lực … và khả năng vận dụng tri thức và kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất và đời sống. Mặt khác, vấn đề chăm lo đời sống giáo viên … có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục. Các nhà trường cần đặc biệt chú ý nghiên cứu những hình thức thích hợp để tổ chức sản xuất, cải thiện đời sống cho giáo viên (tr. 521-523).
Đối với thế hệ trẻ, Đại tướng nhấn mạnh: Tiền đồ rạng rỡ của Tổ quốc Việt Nam nằm trong tay thanh thiếu niên và nhi đồng (tr. 525). Ông nhắc nhở ân cần: Thanh niên các cháu, tuổi đang trẻ, sức đang mạnh, trí đang độ tiến dần, bao giờ cũng phải biết lấy việc chung làm trên hết. Làm việc gì cũng phải nghĩ đến lợi ích của nước nhà, lợi ích của tập thể, lợi ích của cơ quan trước hết. Chớ có nghĩ ngay đến lợi ích cá nhân, đặc biệt phải chống thói “dĩ công vi tư”. Nước nhà còn nghèo, đang trong công cuộc xây dựng CNXH, thanh niên phải đi trước một bước trong việc xây dựng con người mới XHCN, tức là phải biết cống hiến hy sinh cho lợi ích nước nhà trước, đừng vì lợi ích cá nhân trước mắt mà quên đi lý tưởng phấn đấu cho người dân.
Ý nghĩa của những quan điểm cơ bản của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về giáo dục và đào tạo trong thời điểm hiện nay là rất to lớn, sâu sắc. Chúng tôi thiết nghĩ những nhà hoạch định chiến lược, quản lý giáo dục và bản thân những nhà giáo dục cần để tâm nghiên cứu và hiện thực hoá quan điểm mang tầm chiến lược đó để có thể đổi thay mạnh mẽ của nền giáo dục nước nhà, đáp ứng tốt yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế toàn cầu.
Xem: Võ Nguyên Giáp: “Mấy vấn đề về khoa học và giáo dục”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986.